Hotline: 035 717 0799

Tìm hiểu về kiến trúc nhà rông Tây Nguyên

Nhà rông, hay còn được người Đồng bào gọi là Hnam Rông, Jơng hoặc Jông... là một sản phẩm kiến trúc phi vật thể, một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Tây Nguyên.


Không ai biết chính xác nhà rông xuất hiện từ khi nào, nhưng có một điều chắc chắn ai cũng rõ, nhà rông gắn bó như một phần máu thịt của những người con đến từ rừng núi, là biểu hiện đặc trưng cho văn hóa cộng đồng, tinh thần đoàn kết của các tộc người Tây Nguyên, cũng tương tự và thiêng liêng như cây đa, bến nước, sân đình... của người Kinh vậy.


1. Đặc trưng kiến trúc nhà rông Tây Nguyên


Dù với bất kỳ dân tộc, nhà rông cũng được những người con Tây Nguyên dành cho vị trí trang trọng nhất, thuận lợi nhất, đó chính là vị trí trung tâm làng, tại một nơi thoáng đãng, rộng rãi với sức chứa gấp 2 – 3 lượng người dân trong làng, thuận tiện nhất về đường đi. Thường thì vị trí này sẽ được nhắm chọn bởi các già làng, sau khi đã thông qua rất nhiều cuộc hội bàn. Về quy mô, kiến trúc... thì tùy vào điều kiện kinh tế của làng bản mà già làng sẽ quyết định dựng nhà rông to hay nhỏ, cao hay thấp. Đương nhiên, nhà rông của tộc người nào thì sẽ phản ánh đặc trưng văn hóa cũng như thói quen sinh hoạt cộng đồng của tộc người đó. Đây cũng chính là đặc điểm hình thành nên nét đặc trưng cho nhà rông của từng dân tộc.

Nhà rông Tây Nguyên thường có 2 loại là rông trống(đực) và rông mái (cái). Trong đó, theo tiếng Jrai thì nhà rông trống được gọi là Rông tơ nao với phần mái cao, to chót vót, có khi cao đến 30m, các chi tiết trang trí cực kỳ công phu. Nhà rông mái thì thường là nhỏ hơn, thấp hơn và các chi tiết trang trí cũng không công phu bằng.


Về đặc điểm kiến trúc, nhà rông thường dài 10 mét, cao từ 15 – 16 mét và rộng hơn 4 mét. Các vật liệu được sử dụng làm nhà rông thường được khai thác trong rừng như gỗ, tranh, tre, nứa, lồ ô... kết cấu kiến trúc của nhà ông tương tự như nhà sàn, nhưng lại cao hơn, to hơn và đẹp hơn.

Một trong những nét độc đáo của nhà rông Tây Nguyên là không dùng đến sắt thép, mối hàn. Để kết nối với nhau thì các bộ phận bằng gỗ sẽ được chặt đẽo cẩn thận rồi ghép mộng và buộc chắc lại bằng lạt tre. Mối buộc của từng tộc người là không giống nhau. 

Nhà rông gồm 2 mái chính và 2 mái phụ được tạo hình tam giác cân, phần khung mái được làm từ các loại cây dài dựng thẳng đứng (gọi là pơjô (rùi). Phần mái nhà được lợp bằng lá tranh đan thành tấm với độ dày 3cm. Các tấm tranh này sau đó được cố định trên các hàng cây mè thuộc khung mái. Tiến dần lên đỉnh thì được đan nẹp với hình hoa văn chay song song với đỉnh, trông rất đẹp mắt và cũng đảm bảo hơn độ bền cho mái.


Tiếp đến là phần khung nhà, được làm từ các cột gỗ quý to, cao (8 cột). Các cột này liên kết lại với nhau theo hình thức cột vì kèo. Một trong những điểm nổi trội nhất là các đường nét chạm khắc trên hệ vì kèo, đó là những hình ảnh thể hiện tín ngưỡng tôn giáo, kể lại những sự tích huyền thoại xưa, hình ảnh các thú rừng, những đường nét hoa văn tương tự như đường dệt thổ cẩm... tất cả đều rất gần gũi với đời sống thiên nhiên và cuộc sống văn hóa, tinh thần của người dân buôn làng.

 


Có thể nói, hình ảnh nổi bật nhất trong nghệ thuật trang trí nhà rông Tây Nguyên là hình ảnh nữ thần mặt trời chói sáng, thể hiện cho ước vọng chinh phục thiên nhiên của người dân đồng bào. Trong nhà rông còn được treo cồng, chiêng, cung tên, giáo mác, sừng trâu, xương hàm, xương sọ của các thú rừng mà trai bản đã săn bắt được.


Vào những dịp trong bản có lễ hội, ở giữa nhà rông sẽ được dựng lên một cây cột cao. Đây chính là nơi cột rượu thiêng của lễ. Cột này cũng được chạm khắc hình mặt trời (s’drang mặt ‘năr), sao tám cánh (sơ nglong bloong tar), hình thoi… trông rất đẹp mắt, nối liền là hàng cây cột vào các cột thấp hơn chạy theo chiều dài của nhà rông.

 

 


Phần sàn của nhà rông được tạo thành bởi các tấm chẻ bằng lồ ô, nứa hoặc là các tấm ván bằng gỗ rừng. Trên sàn nhà, ở 2 đầu của nhà sẽ được đặt 2 bếp lửa để đốt lửa trong những dịp tổ chức lễ hội hay sưởi ẩm hàng đêm cho trai bản khi nằm canh gác nhà rông vào những đêm đông giá rét.


Tiếp đến là hệ phên vách, cũng được đan bằng tre nứa, lồ ô, tạo thành một dải hoa văn không kém phần sinh động. Cửa chính nhà rông được mở ở gian giữa của vách chính, trong khi đó cửa phụ được mở ở đầu hồi phía bên phải của cửa chính. Trước cửa phụ và cửa chính đều có hiên (được dân làng gọi là pra). Đây là nơi nghỉ chân, chờ đợi khi có nhiều người ra vào nhà.

Tiếp đến chính là cầu thang dẫn lên nhà, được chặt đẽo bằng cách cây gỗ với 7 bậc hoặc 9 bậc. Các hình ảnh trang trí trên đầu cầu thang của từng tộc người cũng có sự khác biệt. Chẳng hạn như của người Ba Na thì là hình ngọn cây rau dớn, của người Ja Rai là hình quả bầu đựng nước, trong khi người Xê Đăng thường chạm khắc hình núm chiêng hoặc mũi thuyền để trang trí cho đầu cầu thang, cũng có tộc người lại thể hiện rõ tín ngưỡng phồn thực qua hình ảnh bầu ngực thiếu nữ...

 


2. Nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng


Nhà rông không chỉ phản ánh nét kiến trúc độc đáo, tài hòa của người dân buôn làng, mà còn sở hữu trong đó những giá trị văn hóa, tinh thần không thể thay thế, được kết tinh từ lối sống văn hóa, tinh thần đoàn kết và cả trí tuệ của cộng đồng, là nơi chứa đựng giá tị vật chất lẫn tinh thần, những giọt mồ hôi lẫn niềm tự hào, kiêu hãnh lẫn ước vọng của người dân Tây Nguyên trước vũ trụ bao la.



Như đã nói, nhà rông là nơi diễn ra những hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của người dân buôn làng, nơi tổ chức các buổi lễ (cưới hỏi, đâm trâu, mừng lúa mới, tết truyền thống) các loại hình diễn xướng dân gian, nhạc cụ dân tộc, trang phục, ngôn ngữ, ứng xử, nghề đan lát, kể hát sử thi... các vụ phân xử kiện tụng, tranh chấp của người dân trong làng... ngoài ra theo tập tục của người dân buôn làng, nhà rông cũng là nơi nghỉ ngơi hằng đêm của các chàng trai chưa vợ, cũng là nơi hò hẹn của nam thanh, nữ tú trong làng, đến gặp gỡ và giao duyên trong những ngày lễ hội để rồi từ đó kết duyên phu thê.

 


Chính vì thân thuộc và quan trọng như vậy, nhà rông được ví như một phần máu thịt của những người con Tây Nguyên, và là một hình ảnh, một biểu tượng không thể thiếu khi nhắc đến đặc trưng văn hóa các đồng bào dân tộc Tây Nguyên.

 

ĐT